Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo mức thay đổi giá của một rổ hàng hoá và dịch vụ cố định mà hộ gia đình điển hình mua, so với một kỳ gốc. Tốc độ tăng của CPI chính là thước đo lạm phát được dùng phổ biến nhất. Khi tin tức nói "lạm phát 3%", đó thường là CPI tăng 3% so với một mốc nào đó, và mốc đó có thể là tháng trước, cùng tháng năm trước, tháng 12 năm trước, hay bình quân cùng kỳ.
Để dùng CPI cho công việc, như điều chỉnh lương, đàm phán giá trong hợp đồng dài hạn, hay so sánh doanh thu qua nhiều năm, bạn cần biết ba điều: mốc so sánh của con số được trích dẫn, rổ hàng và quyền số có giống cơ cấu chi tiêu của đối tượng bạn quan tâm không, và cách quy đổi danh nghĩa sang thực.
Bài này giải thích CPI được xây dựng ra sao, các cách so sánh trong báo cáo thống kê, lạm phát cơ bản, những sai lệch đã biết của CPI, và đưa ra các phép tính mẫu để quy đổi giá trị thực của tiền lương, doanh thu và lãi suất.
CPI được xây dựng thế nào
Về nguyên tắc, CPI là một chỉ số giá kiểu Laspeyres: chọn một rổ hàng hoá và dịch vụ đại diện, gán cho mỗi nhóm một quyền số bằng tỷ trọng chi tiêu của hộ gia đình cho nhóm đó, rồi theo dõi giá từng mặt hàng qua thời gian. Chỉ số chung là trung bình có trọng số của các chỉ số giá thành phần. Quyền số được lấy từ khảo sát chi tiêu hộ gia đình và được cập nhật định kỳ, thường khoảng năm năm một lần ở nhiều nước, kèm theo việc đổi năm gốc.
Ở Việt Nam, rổ hàng CPI được chia thành các nhóm lớn như hàng ăn và dịch vụ ăn uống, đồ uống và thuốc lá, may mặc, nhà ở và vật liệu xây dựng, thiết bị và đồ dùng gia đình, thuốc và dịch vụ y tế, giao thông, bưu chính viễn thông, giáo dục, văn hoá giải trí và du lịch, cùng hàng hoá và dịch vụ khác. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có quyền số lớn nhất, nên biến động giá thực phẩm như thịt lợn và gạo thường tác động rõ lên CPI. Giá được thu thập hằng tháng tại các điểm điều tra ở các tỉnh, thành phố.
Hiểu cấu trúc này giúp bạn giải thích được các con số. Nếu giá xăng tăng mạnh mà CPI chỉ tăng ít, có thể vì nhóm giao thông chỉ chiếm một phần trong rổ và các nhóm khác ổn định. Nếu học phí hoặc giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo lộ trình, CPI có thể nhảy vọt trong đúng tháng điều chỉnh. Báo cáo thống kê hằng tháng thường giải thích các nhóm hàng tác động chính, và đó là phần đáng đọc nhất của báo cáo.
Bốn con số lạm phát trong cùng một báo cáo
Báo cáo CPI hằng tháng của cơ quan thống kê Việt Nam thường đưa nhiều mốc so sánh. Chúng trả lời các câu hỏi khác nhau và không nên lẫn với nhau.
| Con số | So sánh với | Trả lời câu hỏi | Dùng khi |
|---|---|---|---|
| CPI tháng so tháng trước | Tháng liền trước | Giá vừa thay đổi thế nào trong tháng? | Theo dõi biến động ngắn hạn, cú sốc giá |
| CPI tháng so cùng kỳ năm trước | Cùng tháng năm trước | Giá đã thay đổi bao nhiêu trong 12 tháng qua? | Đánh giá lạm phát hiện tại, so sánh quốc tế |
| CPI tháng so tháng 12 năm trước | Tháng 12 năm trước | Từ đầu năm đến nay giá đã tăng bao nhiêu? | Theo dõi tiến độ trong năm |
| CPI bình quân kỳ so cùng kỳ | Bình quân cùng giai đoạn năm trước | Mức giá trung bình năm nay cao hơn năm trước bao nhiêu? | Con số lạm phát cả năm hay được dùng làm mục tiêu |
Các con số này có thể khác nhau đáng kể. Ví dụ giả định: nếu giá tăng nhanh vào cuối năm trước rồi đứng yên năm nay, CPI so cùng kỳ của các tháng đầu năm sẽ cao, CPI so tháng 12 năm trước sẽ gần bằng không, còn CPI bình quân sẽ ở giữa. Khi đọc một con số "lạm phát", việc đầu tiên là xem nó thuộc loại nào.
Khi điều chỉnh giá hợp đồng hay tiền lương theo lạm phát, cần ghi rõ trong văn bản dùng con số nào, công bố bởi ai, tại kỳ nào. Một điều khoản chỉ ghi "điều chỉnh theo lạm phát" là nguồn tranh chấp tiềm tàng.
Lạm phát cơ bản và vì sao ngân hàng trung ương quan tâm
Lạm phát chung chịu tác động của các cú sốc tạm thời. Giá thực phẩm tươi sống biến động theo mùa vụ và thời tiết, giá năng lượng biến động theo thị trường thế giới, giá các dịch vụ do nhà nước quản lý thay đổi theo quyết định hành chính. Những biến động này có thể đảo chiều nhanh và không phản ánh áp lực giá lan toả trong nền kinh tế.
Lạm phát cơ bản loại bỏ các thành phần đó. Ở Việt Nam, lạm phát cơ bản được cơ quan thống kê tính bằng cách loại khỏi CPI các nhóm như lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và các mặt hàng do nhà nước quản lý giá như dịch vụ y tế và giáo dục. Nhiều nước khác dùng các cách tiếp cận tương tự hoặc dùng trung bình cắt và trung vị có trọng số của các thành phần giá.
Ý nghĩa khi đọc số liệu. Khi lạm phát chung tăng mạnh nhưng lạm phát cơ bản ổn định, áp lực nhiều khả năng đến từ cú sốc cung và có thể qua đi. Khi lạm phát cơ bản tăng dần qua nhiều tháng, áp lực giá đã lan sang nhiều mặt hàng và khó đảo chiều hơn. Đây là lý do các ngân hàng trung ương theo dõi sát lạm phát cơ bản khi điều hành lãi suất.
Giới hạn. Lạm phát cơ bản không phải "lạm phát thật" còn lạm phát chung là "nhiễu". Hộ gia đình vẫn phải trả tiền thực phẩm và xăng dầu. Với người lao động thu nhập thấp, nơi thực phẩm chiếm phần lớn chi tiêu, lạm phát chung có khi còn đánh giá thấp mức tăng chi phí sinh hoạt thực tế.
Vì sao lạm phát bạn cảm nhận khác con số công bố
Đây là câu hỏi phổ biến nhất về CPI, và câu trả lời có cả phần tâm lý lẫn phần kỹ thuật. Về kỹ thuật, rổ hàng của bạn khác rổ hàng trung bình. Một gia đình trẻ ở đô thị đang thuê nhà và có con nhỏ dành tỷ trọng chi tiêu cho nhà ở, giáo dục và thực phẩm khác hẳn một hộ hưu trí ở nông thôn đã có nhà. Khi giá thuê nhà và học phí tăng nhanh hơn mặt bằng chung, lạm phát cá nhân của gia đình thứ nhất cao hơn CPI. Một số cơ quan thống kê trên thế giới đã cung cấp công cụ để người dân tự tính lạm phát cá nhân theo cơ cấu chi tiêu của mình vì lý do này.
Về tâm lý, con người nhớ và chú ý đến các mặt hàng mua thường xuyên, như xăng, rau, thịt, cà phê, nhiều hơn các mặt hàng mua thưa như điện thoại, quần áo, đồ gia dụng, vốn có giá tăng chậm hơn hoặc thậm chí giảm khi tính theo chất lượng. Các nghiên cứu về kỳ vọng lạm phát của hộ gia đình ở nhiều nước cho thấy người dân thường ước tính lạm phát cao hơn số liệu chính thức, và ước tính của họ phụ thuộc mạnh vào giá của vài mặt hàng dễ thấy.
Cũng có những sai lệch kỹ thuật đã được nghiên cứu kỹ. Năm 1996, ủy ban Boskin do Thượng viện Mỹ thành lập kết luận CPI của Mỹ khi đó đã ước tính cao lạm phát khoảng 1,1 điểm phần trăm mỗi năm, do ba nguồn chính: thiên lệch thay thế (rổ cố định không phản ánh việc người tiêu dùng chuyển sang hàng rẻ hơn khi giá tăng), thiên lệch chất lượng (giá tăng một phần vì sản phẩm tốt hơn) và thiên lệch hàng mới (sản phẩm mới vào rổ chậm). Các cơ quan thống kê sau đó đã cải tiến phương pháp, nhưng mức độ sai lệch còn lại vẫn là chủ đề nghiên cứu.
Tính giá trị thực: ba phép tính dùng được ngay
Các phép tính dưới đây là ví dụ giả định với con số tròn để dễ theo dõi. Khi áp dụng, hãy dùng chỉ số CPI chính thức của đúng các kỳ cần so sánh.
- Quy đổi một khoản tiền quá khứ về giá hiện tại: giá trị hôm nay = số tiền năm cũ × CPI năm nay / CPI năm cũ. Nếu lương năm gốc là 10 triệu đồng, CPI năm gốc bằng 100 và hiện bằng 125, thì 10 triệu năm gốc tương đương 12,5 triệu đồng ngày nay về sức mua.
- Tính tăng trưởng thực: tăng trưởng thực = (1 + tăng danh nghĩa) / (1 + lạm phát) − 1. Doanh thu tăng 8% trong khi lạm phát 4% thì tăng thực khoảng 3,8%, chứ không phải 4%. Với chênh lệch nhỏ, phép trừ gần đúng chấp nhận được; với lạm phát cao, phải dùng phép chia.
- Tính lãi suất thực: theo phương trình Fisher, lãi suất thực xấp xỉ lãi suất danh nghĩa trừ lạm phát kỳ vọng. Gửi tiết kiệm lãi 5% một năm khi lạm phát 4% thì sức mua của khoản tiền chỉ tăng khoảng 1%; nếu lạm phát lên 6%, sức mua giảm dù số dư tăng.
- Lương thực tế qua nhiều năm: chia chuỗi lương danh nghĩa cho chuỗi CPI cùng kỳ gốc rồi nhân 100. Một chuỗi lương tăng đều 7% mỗi năm trông rất đẹp, nhưng nếu lạm phát bình quân 5%, lương thực tế chỉ tăng khoảng 2% mỗi năm.
Sai lầm hay gặp nhất là so doanh thu, giá bán hay lương qua mười năm mà không quy đổi, rồi kết luận "tăng gấp đôi". Với lạm phát bình quân 4% mỗi năm, mức giá chung sau mười năm đã cao hơn khoảng 48%, nên một khoản tăng gấp đôi danh nghĩa chỉ tương đương tăng khoảng 35% về giá trị thực.
Những hiểu lầm phổ biến về CPI và lạm phát
Hiểu lầm: lạm phát giảm nghĩa là giá giảm. Thực tế: lạm phát giảm từ 5% xuống 2% nghĩa là giá vẫn tăng, chỉ tăng chậm hơn. Giá chỉ giảm khi lạm phát âm, gọi là giảm phát. Mặt bằng giá hiếm khi quay lại mức cũ sau một đợt lạm phát cao.
Hiểu lầm: CPI đo chi phí sinh hoạt của mọi người. Thực tế: CPI đo giá của rổ hàng trung bình, không phải chi phí sinh hoạt của bất kỳ ai cụ thể. Nó cũng thường không bao gồm giá mua nhà như một khoản đầu tư; nhiều nước chỉ đưa vào giá thuê nhà hoặc chi phí ở tương đương.
Hiểu lầm: CPI tăng thì doanh nghiệp được tăng giá tương ứng. Thực tế: chi phí đầu vào của một doanh nghiệp có thể tăng nhanh hoặc chậm hơn nhiều so với CPI. Doanh nghiệp sản xuất nên theo dõi chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá nguyên liệu của ngành mình, vì đó mới là thứ quyết định biên lợi nhuận.
Hiểu lầm: lạm phát thấp luôn tốt. Thực tế: nhiều ngân hàng trung ương ở các nền kinh tế phát triển đặt mục tiêu lạm phát dương khoảng 2% chứ không phải bằng không, vì giảm phát kéo dài làm tăng gánh nặng nợ thực và có thể khiến người tiêu dùng trì hoãn chi tiêu. Mức mục tiêu phù hợp với từng nền kinh tế là chủ đề còn tranh luận.
Câu hỏi thường gặp
CPI và chỉ số giảm phát GDP khác nhau thế nào?
CPI đo giá rổ hàng hộ gia đình mua, bao gồm cả hàng nhập khẩu, với quyền số cố định theo kỳ gốc. Chỉ số giảm phát GDP đo giá của mọi hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước, kể cả hàng xuất khẩu và hàng đầu tư, với cơ cấu thay đổi theo sản lượng mỗi kỳ. Hai chỉ số có thể lệch nhau đáng kể.
Vì sao giá vàng và đô la Mỹ không nằm trong CPI?
Vàng và ngoại tệ chủ yếu được nắm giữ như tài sản chứ không phải hàng tiêu dùng, nên không thuộc rổ CPI. Cơ quan thống kê Việt Nam công bố riêng chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ cùng với CPI hằng tháng để người dùng tham khảo, nhưng chúng không được cộng vào lạm phát.
Có nên dùng CPI cả nước để điều chỉnh lương cho nhân viên ở một thành phố lớn không?
Có thể dùng làm mốc, nhưng nên xem thêm CPI của địa phương nếu được công bố, và cơ cấu chi tiêu thực của nhân viên, nhất là chi phí thuê nhà. Ở các đô thị lớn, chi phí nhà ở thường tăng nhanh hơn mặt bằng chung, nên CPI cả nước có thể đánh giá thấp áp lực chi phí của người lao động.
Chỉ số CPI bằng 120 có nghĩa là gì?
Nghĩa là mức giá của rổ hàng cao hơn kỳ gốc 20%. Bản thân con số 120 không cho biết lạm phát năm nay; muốn biết, phải so với chỉ số của kỳ trước. Lưu ý khi cơ quan thống kê đổi năm gốc, chuỗi chỉ số được tính lại, nên cần dùng chuỗi đã nối cùng gốc.
Siêu lạm phát được định nghĩa thế nào?
Định nghĩa kinh điển của Phillip Cagan năm 1956 là khi giá tăng hơn 50% mỗi tháng. Các tổ chức quốc tế và chuẩn mực kế toán có những ngưỡng khác, ví dụ lạm phát luỹ kế ba năm vượt khoảng 100% được dùng trong chuẩn mực kế toán về nền kinh tế siêu lạm phát. Tình trạng này khác hẳn về chất so với lạm phát vài phần trăm.
Lạm phát kỳ vọng được đo bằng cách nào?
Có ba nguồn chính: khảo sát hộ gia đình và doanh nghiệp về mức giá họ dự đoán, khảo sát các chuyên gia dự báo, và suy ra từ thị trường tài chính, như chênh lệch lợi suất giữa trái phiếu thường và trái phiếu chỉ số hoá theo lạm phát ở những nước có loại trái phiếu này. Mỗi nguồn có thiên lệch riêng.