TrungTamThongTin.comTrung Tâm Thông Tin
Thông tin doanh nghiệp

Đọc báo cáo tài chính của đối tác: khách hàng có trả nổi, nhà cung cấp có trụ nổi

Cách đọc báo cáo tài chính của khách hàng và nhà cung cấp để đánh giá rủi ro tín dụng: chỉ số nào cần, ví dụ tính giả định, Altman Z và giới hạn của số liệu.

Close-up of a Vietnamese finance manager hands flipping through blank ledger pages beside a closed laptop and a cup of tea, warm lamp light at dusk, deep green and brass palette

Khi đọc báo cáo tài chính của một đối tác, bạn không cần phân tích như nhà đầu tư; bạn cần trả lời một câu hẹp hơn: nếu là khách hàng mua chịu, họ có đủ tiền và thói quen trả đúng hạn không; nếu là nhà cung cấp, họ có đủ sức trụ đến hết hợp đồng không. Năm nhóm chỉ số là đủ cho hầu hết quyết định: khả năng thanh toán ngắn hạn, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, đòn bẩy nợ, vòng quay phải thu phải trả, và xu hướng doanh thu, biên lợi nhuận.

Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam không công khai báo cáo tài chính; công ty đại chúng thì công bố qua hệ thống chứng khoán. Vì vậy bước đầu tiên thường là đề nghị đối tác cung cấp, kèm cam kết bảo mật. Bài này trình bày cách lấy báo cáo, ba câu hỏi cần đặt, bảng chỉ số theo vai trò của đối tác, một ví dụ tính giả định, mô hình Altman Z và giới hạn của nó, và các dấu hiệu cảnh báo trên báo cáo.

Lấy báo cáo ở đâu và tin được đến mức nào

Với công ty đại chúng và niêm yết, báo cáo tài chính năm có kiểm toán, báo cáo bán niên được soát xét và báo cáo quý được công bố trên trang của sở giao dịch chứng khoán, cơ quan quản lý chứng khoán và trang của chính công ty. Đây là nguồn tốt nhất vì có kiểm toán độc lập và nghĩa vụ công bố đúng hạn. Với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số loại hình khác, pháp luật yêu cầu báo cáo năm được kiểm toán, nên bạn có thể đề nghị bản có ý kiến kiểm toán.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước, báo cáo được lập để nộp cơ quan thuế và thường không kiểm toán. Chất lượng rất khác nhau: có nơi kế toán bài bản, có nơi số liệu được điều chỉnh để giảm thuế phải nộp hoặc để đẹp khi đi vay. Bạn nên xin bản đã nộp cơ quan thuế (có xác nhận nộp qua hệ thống điện tử) thay vì bản "tham khảo" soạn riêng cho bạn, vì bản nộp thuế ít có động cơ thổi phồng doanh thu.

Khi đọc báo cáo có kiểm toán, hãy đọc ý kiến kiểm toán trước khi đọc số. Ý kiến chấp nhận toàn phần là bình thường. Ý kiến ngoại trừ, ý kiến trái ngược hay từ chối đưa ra ý kiến cho biết kiểm toán viên không đồng ý hoặc không kiểm chứng được một phần quan trọng. Đoạn "vấn đề cần nhấn mạnh" về khả năng hoạt động liên tục là tín hiệu nghiêm trọng nhất với người bán chịu: kiểm toán viên đang nói doanh nghiệp có thể không tồn tại qua mười hai tháng tới.

Ba câu hỏi đặt trước khi đọc số

Báo cáo tài chính có hàng trăm dòng; không có câu hỏi thì dễ lạc trong chi tiết. Ba câu hỏi sau dẫn đường cho cả phần phân tích.

  • Rủi ro của mình là gì và kéo dài bao lâu? Bán chịu 60 ngày cho một khách hàng là rủi ro ngắn hạn: trọng tâm là tiền mặt và khả năng thanh toán trong vài tháng tới. Hợp đồng cung ứng ba năm với một nhà cung cấp duy nhất là rủi ro dài hạn: trọng tâm là sức bền của mô hình kinh doanh và nợ vay.
  • Đối tác kiếm tiền từ đâu và tiền có thật sự về không? Lợi nhuận kế toán có thể dương trong khi tiền mặt cạn, vì doanh thu ghi nhận nhưng khách chưa trả. So lợi nhuận với dòng tiền từ hoạt động kinh doanh qua hai ba năm là phép thử nhanh nhất.
  • Nếu năm sau xấu đi, họ còn chịu được bao lâu? Nhìn vào tiền mặt, hạn mức vay còn lại, các khoản nợ đến hạn trong năm tới. Doanh nghiệp đòn bẩy cao với nợ ngắn hạn lớn dễ gãy khi ngân hàng thắt tín dụng, dù hoạt động kinh doanh không tệ.

Ba câu này cũng giúp bạn quyết định không cần đọc gì. Với một đơn hàng ngắn hạn trả chậm 30 ngày, phân tích chi tiết cơ cấu tài sản cố định là thừa; với hợp đồng nhiều năm, chỉ nhìn hệ số thanh toán hiện hành là thiếu.

Chỉ số theo vai trò của đối tác

Bảng dưới chọn lọc chỉ số theo câu hỏi của người bán chịu và người mua phụ thuộc nhà cung cấp. Ngưỡng tham chiếu thay đổi mạnh theo ngành; con số trong ngoặc chỉ là mốc định hướng để đặt câu hỏi, không phải chuẩn đạt hay trượt.

Chỉ sốCách tínhNgười bán chịu đọc thế nàoNgười mua phụ thuộc đọc thế nào
Hệ số thanh toán hiện hànhTài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạnDưới 1 là tín hiệu căng thẳng, cần xem cơ cấu tài sản ngắn hạnÍt quan trọng hơn so với đòn bẩy và dòng tiền
Hệ số thanh toán nhanh(Tài sản ngắn hạn − Hàng tồn kho) / Nợ ngắn hạnQuan trọng với ngành tồn kho lớn, hàng khó bánCho biết đối tác có bị kẹt vốn trong kho không
Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanhTrên báo cáo lưu chuyển tiền tệÂm nhiều năm liền trong khi lãi kế toán là cờ đỏÂm kéo dài thì đối tác phải sống bằng vay, dễ đứt cung ứng
Kỳ thu tiền bình quân (DSO)Phải thu khách hàng / Doanh thu × 365Cho thấy họ thu tiền nhanh hay chậm; DSO dài thường kéo theo trả chậm cho bạnÍt liên quan
Kỳ trả tiền bình quân (DPO)Phải trả người bán / Giá vốn × 365DPO tăng mạnh nghĩa là họ đang trả nhà cung cấp chậm hơn, có thể vì thiếu tiềnDPO quá dài có thể khiến nhà cung cấp của họ cắt hàng, ảnh hưởng tới bạn
Nợ vay / Vốn chủ sở hữuTổng vay có lãi / Vốn chủ sở hữuCao thì khi khó khăn ngân hàng được trả trước, bạn xếp sauCao và nợ ngắn hạn lớn thì rủi ro gãy giữa hợp đồng
Biên lợi nhuận gộp và xu hướng doanh thuLợi nhuận gộp / Doanh thu; so 3 nămBiên giảm liên tục báo hiệu áp lực cạnh tranh, dòng tiền sẽ mỏng dầnBiên quá mỏng khiến đối tác dễ cắt góc chất lượng hoặc đòi tăng giá

Đừng tính một chỉ số cho một năm rồi kết luận. Một con số đơn lẻ gần như vô nghĩa; xu hướng ba năm và so sánh với doanh nghiệp cùng ngành mới nói được điều gì đó.

Ví dụ tính giả định: có nên bán chịu cho khách hàng X?

Công ty X phân phối thiết bị điện, đề nghị mua chịu 90 ngày với hạn mức 1,5 tỷ đồng. Báo cáo năm gần nhất (ví dụ giả định): doanh thu 60 tỷ, giá vốn 52 tỷ, lợi nhuận sau thuế 1,2 tỷ; tài sản ngắn hạn 28 tỷ, trong đó tiền 1 tỷ, phải thu 15 tỷ, tồn kho 11 tỷ; nợ ngắn hạn 25 tỷ, trong đó vay ngân hàng 14 tỷ và phải trả người bán 10 tỷ; vốn chủ sở hữu 8 tỷ; dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh âm 3 tỷ.

Tính nhanh: hệ số thanh toán hiện hành = 28/25 = 1,12, trông tạm ổn. Hệ số thanh toán nhanh = (28 − 11)/25 = 0,68, mỏng. DSO = 15/60 × 365 ≈ 91 ngày: X đang cho khách của mình nợ trung bình ba tháng. DPO = 10/52 × 365 ≈ 70 ngày. Vay/vốn chủ = 14/8 = 1,75. Lợi nhuận dương nhưng dòng tiền hoạt động âm 3 tỷ, nghĩa là tiền đang bị chôn vào phải thu và tồn kho, được bù bằng vay ngân hàng.

Diễn giải: X không phải con nợ xấu theo nghĩa thua lỗ, nhưng là doanh nghiệp thiếu tiền mặt có cấu trúc. Họ đòi bạn 90 ngày vì chính họ đang cho khách nợ 91 ngày. Nếu một khách lớn của X chậm trả, bạn nằm trong hàng chờ cùng ngân hàng và các nhà cung cấp khác. Phương án hợp lý: chấp nhận bán chịu nhưng hạn mức thấp hơn, chẳng hạn 600 triệu đồng với 45 ngày; hoặc giữ hạn mức đề nghị kèm bảo lãnh thanh toán của ngân hàng; và theo dõi DSO của X trong báo cáo năm sau. (Toàn bộ số liệu là ví dụ giả định.)

Altman Z-score: công cụ hữu ích nếu biết giới hạn

Năm 1968, Edward Altman công bố mô hình Z-score dựa trên phân tích phân biệt đa biến, kết hợp năm tỷ số tài chính để phân biệt doanh nghiệp sản xuất niêm yết tại Mỹ có nguy cơ phá sản với doanh nghiệp an toàn. Bản gốc là Z = 1,2·A + 1,4·B + 3,3·C + 0,6·D + 1,0·E, trong đó A là vốn lưu động trên tổng tài sản, B là lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản, C là lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên tổng tài sản, D là giá trị thị trường của vốn cổ phần trên tổng nợ, E là doanh thu trên tổng tài sản. Altman đưa ra vùng tham chiếu: trên khoảng 2,99 là an toàn, dưới khoảng 1,81 là vùng nguy hiểm, ở giữa là vùng xám.

Altman sau đó phát triển các biến thể cho công ty chưa niêm yết (thay giá trị thị trường bằng giá trị sổ sách) và cho doanh nghiệp phi sản xuất, thị trường mới nổi, với hệ số và ngưỡng khác. Đây là điểm người dùng hay sai: áp công thức gốc cho một công ty thương mại chưa niêm yết ở Việt Nam rồi so với ngưỡng 1,81 và 2,99 là dùng sai mô hình. Hệ số được ước lượng trên mẫu doanh nghiệp, thời kỳ và chuẩn mực kế toán cụ thể.

Dùng đúng cách, Z-score là một tín hiệu sàng lọc để so sánh tương đối giữa các đối tác hoặc theo dõi một đối tác qua nhiều năm: nếu điểm của một nhà cung cấp giảm đều ba năm liền, điều đó đáng chú ý dù con số tuyệt đối nằm ở đâu. Không dùng nó làm căn cứ duy nhất để từ chối hay chấp nhận. Các mô hình khác như Beneish M-score (phát hiện khả năng thao túng lợi nhuận) cũng có giá trị tương tự: gợi câu hỏi, không thay kết luận.

Dấu hiệu cảnh báo trên báo cáo tài chính

Lợi nhuận đều đặn nhưng dòng tiền hoạt động âm nhiều năm. Doanh thu có thể được ghi nhận sớm hoặc phải thu khó đòi chưa được trích lập dự phòng. Hỏi danh sách phải thu theo tuổi nợ.

Phải thu hoặc tồn kho tăng nhanh hơn doanh thu. Khách hàng đang trả chậm hơn hoặc hàng tồn khó bán. Cả hai đều chôn tiền và có thể dẫn tới lỗ khi phải xoá sổ.

Phải thu từ bên liên quan lớn. Tiền có thể đang được chuyển sang công ty của chủ sở hữu dưới dạng cho vay hay ứng trước. Đọc kỹ thuyết minh về giao dịch với bên liên quan.

Vốn chủ sở hữu âm hoặc lỗ luỹ kế lớn. Doanh nghiệp đang sống nhờ chủ nợ. Với người bán chịu, đây là mức rủi ro cần bảo đảm thanh toán.

Đổi công ty kiểm toán liên tục hoặc nộp báo cáo trễ. Đôi khi là chuyện chi phí, nhưng cũng có thể do bất đồng về cách ghi nhận số liệu. Đáng được hỏi.

Báo cáo cho bạn khác bản nộp cơ quan thuế. Hai bộ sổ là dấu hiệu nghiêm trọng về tính trung thực, bất kể bản nào đẹp hơn.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp nhỏ không có báo cáo kiểm toán thì có nên tin số liệu không?

Nên dùng nhưng có chiết khấu niềm tin. Đối chiếu doanh thu với hoá đơn đầu ra mẫu, với quy mô nhân sự và nhà xưởng bạn quan sát được, và với lịch sử giao dịch của chính bạn với họ. Báo cáo đã nộp cơ quan thuế thường thận trọng hơn bản soạn riêng để đi vay hay chào hàng.

Báo cáo thông tin tín dụng doanh nghiệp là gì và lấy ở đâu?

Đó là báo cáo về các khoản vay, dư nợ, lịch sử trả nợ của doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng, do trung tâm thông tin tín dụng quốc gia hoặc công ty thông tin tín dụng được cấp phép cung cấp. Doanh nghiệp tự xin được báo cáo của mình; muốn xem báo cáo của đối tác thường cần sự đồng ý của họ theo quy định hiện hành.

Nên dùng báo cáo năm hay báo cáo quý?

Báo cáo năm có độ tin cậy cao hơn, nhất là khi có kiểm toán, nhưng có thể cũ tới mười mấy tháng vào thời điểm bạn đọc. Với công ty đại chúng, đọc báo cáo năm để hiểu cấu trúc và báo cáo quý gần nhất để cập nhật xu hướng. Với doanh nghiệp nhỏ, đề nghị thêm số liệu tạm tính gần nhất kèm báo cáo năm.

Ngưỡng hệ số thanh toán hiện hành bao nhiêu là an toàn?

Không có ngưỡng chung. Doanh nghiệp bán lẻ thu tiền mặt ngay và trả nhà cung cấp chậm có thể vận hành tốt với hệ số dưới 1, còn doanh nghiệp xây dựng có thể có hệ số trên 1,5 vẫn căng thẳng vì phải thu khó đòi. Hãy so với các doanh nghiệp cùng ngành và với chính đối tác qua các năm.

Có nên tự tính Altman Z cho đối tác không?

Có thể tính để so sánh tương đối hoặc theo dõi xu hướng, với điều kiện dùng đúng biến thể phù hợp loại doanh nghiệp và hiểu rằng ngưỡng được xây dựng trên mẫu nước ngoài. Đừng diễn giải con số như xác suất phá sản và đừng dùng nó làm lý do duy nhất để từ chối một đối tác.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.